Tài Liệu

Báo cáo kết quả Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học

Tải về Bản in

Sau khi hoàn thành khóa học bồi dưỡng thường xuyên thì các thầy cô sẽ phải làm báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên cá nhân. Sau đây là biểu mẫu báo cáo kiến thức bồi dưỡng thường xuyên cá nhân tiểu học share-data.top.vn đã sưu tầm xin gửi đến các bạn cùng tham khảo.

1. Báo cáo kết quả Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên số 1

TRƯỜNG………….

TỔ CHUYÊN MÔN:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO KẾT QUẢ

THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN

NĂM HỌC …………..

Họ và tên giáo viên:…………….

Tổ chuyên môn:……………

Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn.

Nhiệm vụ được phân công: Giảng dạy và chủ nhiệm lớp…………

A.  KIẾN THỨC BẮT BUỘC:

I. Nội dung 1: 30 tiết/năm học/giáo viên.

1. Nội dung bồi dưỡng:

– Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

– Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội khóa XIV và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

– Chỉ thị 2919/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019 của ngành giáo dục.

– Hướng dẫn số 4095/BGDĐT-CNTT thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2018-2019

– Chỉ thị số 3798/CT-BGDĐT về việc sử dụng SGK và sách tham khảo trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

2. Hình thức bồi dưỡng:

– Chủ yếu tự đọc và nghiên cứu.

– Học tập trung (1 ngày)

3. Kết quả vận dụng trong quá trình giảng dạy.

Nghiên cứu và nắm vững các Chỉ thị, Nghị quyết.

Nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách phát triển giáo dục tiểu học, chương trình, sách giáo khoa đối với bậc học. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Học tập và tăng cường ƯDCNTT trong giảng dạy.

Thường xuyên học hỏi, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của bản thân.

4. Tự đánh giá

Nhận thức: 5 điểm

Vận dụng: 4 điểm

Tổng điểm: 9 điểm

II. Nội dung 2: (30 tiết/năm học/giáo viên)

1. Nội dung bồi dưỡng:

– Triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2018-2019 cấp Tiểu học.

– Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học về phương pháp dạy học tích cực.

– Nâng cao năng lực đánh giá thường xuyên cho cán bộ quản lí, giáo viên đối với học sinh tiểu học theo TT22/2016;

– Ra đề kiểm tra theo 4 mức độ.

– Bồi dưỡng kiến thức tin học ứng dụng: sử dụng các trang thiết bị, phần cứng, phần mềm ứng dụng trong công tác giảng dạy; khai thác các nguồn học liệu qua trang mạng Trường học kết nối,….

2. Hình thức bồi dưỡng:

– Tham gia lớp bồi dưỡng tập trung do PGD&ĐT tổ chức.

– Bồi dưỡng tại nhà trường thông qua sinh hoạt chuyên môn.

– Tự bồi dưỡng thông qua các tài liệu, trang mạng Trường học kết nối .

3. Kết quả vận dụng trong quá trình giảng dạy.

– Nghiêm túc thực hiện theo đúng kế hoạch năm học của PGD&ĐT, của nhà trường đã xây dựng ngay từ đầu năm học.

– Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh. Tăng cường tính tự giác, tích cực, chủ động học tập của cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của HS, đánh giá của các bạn, của cha mẹ HS.

– Nắm chắc một số phương pháp, kĩ thuật đánh giá thường xuyên các môn học và HĐGD học sinh tiểu học theo Thông tư 22/2016 và áp dụng trong quá trình dạy học.

– Hiểu rõ ràng, đầy đủ và thực hành biên soạn được các câu hỏi, bài tập 4 mức độ phát triển năng lực học sinh và ra đề kiểm tra định kì theo 4 mức độ dựa trên Chuẩn kiến thức, kỹ năng.

– Thường xuyên tự bồi dưỡng và có khả năng sử dụng một số phần mềm dạy học ứng dụng vào các tiết dạy.

4. Tự đánh giá

Nhận thức: 5 điểm

Vận dụng: 4 điểm

Tổng điểm: 9 điểm

B. NỘI DUNG TỰ CHỌN: (Nội dung bồi dưỡng 3).

*MÔ ĐUN TH 32: DẠY HỌC PHÂN HOÁ Ở TIÊU HỌC

I. Nội dung

1. Tầm quan trọng của việc dạy học phân hoá ở tiểu học

Quá trình dạy học gồm hai hoạt động có quan hệ hữu cơ: hoạt động dạy của giáo viên (GV) và hoạt động học của HS. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục. Trong quá trình dạy học, cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học. Chính vì vậy, việc dạy học theo nhóm đối tượng sẽ giúp cho tất cả HS đều tích cực học tập. Từ đó đạt được chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học, đồng thời phát triển năng lực học tập của từng HS.

2. Phương pháp thực hiện dạy học phân hoá đối tượng ở một số môn học ở tiểu học.

Như chúng ta đã biết, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở tiểu học tập trung theo những định hướng cơ bản: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; hình thành và phát triển khả năng tự học cho HS; đảm bảo tính phù hợp với đối tượng giáo dục và đặc điểm vùng, miền; đảm bảo tính trực quan; thực hiện dạy học tích hợp… nhằm khơi dậy hứng thú học tập cho HS.

Ở tiểu học, đảm bảo tính phù hợp với đối tượng giáo dục là tôn trọng sự phát triển của mỗi cá nhân, tạo cơ hội phát triển tối đa khả năng cho mỗi người học qua dạy học phân hoá, bồi dưỡng HS có năng lực, phụ đạo HS yếu, HS có khó khăn trong học tập… Chấp nhận sự đa dạng trong giáo dục thể hiện tính nhân văn của GDTH. Tính phù hợp trong dạy học ở tiểu học còn thể hiện ở sự phù hợp với đặc trưng môn học, hoạt động giáo dục; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp học, của nhà trường, của địa phương…

Phương pháp thực hiện dạy học phân hoá đối tượng ở một số môn học ở tiểu học gắn liền với việc tổ chức dạy học. Tổ chức dạy học ở tiểu học linh hoạt, đa dạng phù hợp với mỗi đối tượng HS và điều kiện của nhà trường. Có thể tổ chức học theo cá nhân, theo nhóm, theo lớp; có thể học trong lớp hoặc ngoài lớp; có thể chuẩn bị bài ở nhà hay sinh hoạt theo các câu lạc bộ… giúp HS học tập hứng thú và đạt kết quả cao. Ví dụ, có thể tổ chức các hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp khả năng và nhu cầu của HS, chia HS theo các nhóm: Nhóm củng cố kiến thức; nhóm bồi dưỡng nâng cao, năng khiếu ; nhóm phát triển thể chất; nhóm phát triển nghệ thuật; nhóm hoạt động xã hội… Nên dành thời gian thích đáng cho việc tự học của HS với sự hướng dẫn, giúp đỡ thích hợp của GV. Tất cả hướng vào mục tiêu phát triển toàn diện cho HS.

Như vậy, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở tiểu học phải phù hợp với nội dung, đối tượng, điều kiện cụ thể của mỗi lớp học. GDTH thực hiện mục tiêu dạy chữ – dạy người, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. Với mục tiêu đó, GV cần có cách nhìn tổng thể, tích hợp các nội dung giáo dục của các môn học, giải quyết hài hoà các nhiệm vụ học tập, đó cũng chính là giải pháp tối ưu để đạt chất lượng, hiệu quả giáo dục ở tiểu học.

3. Các điều kiện để thực hiện hiệu quả việc dạy học phân hoá ở tiểu học

DHPH là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (cá nhân) hoặc nhóm người học. Ở tiểu học, DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản. Ngoài kế hoạch dạy học, thông thường phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp, đưa HS yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát triển ở mức cao hơn.

* Quy trình thực hiện DHPH ở tiểu học: Đánh giá, phân loại trình độ, năng lực học tập của HS. Xây dựng kế hoạch, nội dung và lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng nhóm đối tượng hoặc từng đối tượng đặc biệt. Tổ chức triển khai thực hiện. Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, hoàn thiện.

* Một số biện pháp về nghiệp vụ sư phạm để thực hiện dạy học phân hóa ở tiểu học đạt hiệu quả

– Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra để đánh giá, chẩn đoán, phân loại đối tượng HS theo trình độ

+ Kết hợp kiểm tra định kì, kiểm tra thường xuyên và quan sát lớp học: GV cần thận trọng khi đưa ra kết luận một HS nào đó thuộc nhóm trình độ nào. Do vậy, cần phải kết hợp nhiều hình thức kiểm tra trong dạy học để có kết quả khách quan và chính xác. Ngoài việc kiểm tra định kì và kiểm tra thường xuyên, GV nên có sổ tay ghi chép kết quả quan sát, theo dõi hàng ngày, trong đó lưu ý đến những trường hợp đặc biệt, hoặc quá xuất sắc hoặc quá yếu để tiến hành DHPH phù hợp.

+ Kết hợp kiểm tra độ khó và độ nhanh, tăng cường cho HS tự đánh giá: Để có thể phân loại sâu hơn, GV thiết kế đề kiểm tra kết hợp độ khó và độ nhanh, tức là tăng số lượng bài tập trong mỗi lần kiểm tra, kết quả đánh giá không theo thang điểm 10 mà là GV ghi nhận trong cùng một khoảng thời gian đó, HS làm đúng được bao nhiêu bài. Cách làm này khuyến khích HS phát huy hết khả năng của mình đồng thời có thể tự đánh giá khả năng của mình so với các bạn.

– Phân bậc nhiệm vụ trong thiết kế kế hoạch bài dạy: HS khá, giỏi sẽ thực hiện nhiệm vụ khó hơn hoặc nhiều nhiệm vụ hơn hoặc thực hiện không có sự hướng dẫn. HS TB hoặc yếu sẽ thực hiện ít nhiệm vụ, đơn giản hơn hoặc được những chỉ dẫn, hỗ trợ nhiều hơn. Khi tổ chức DHPH nội dung thực hành luyện tập GV cần dự kiến về thời gian và biện pháp sao cho phù hợp nhất để phát huy khả năng của từng HS.

– Linh hoạt trong tổ chức hoạt động nhóm khi DHPH: Tùy theo mục tiêu dạy học, việc chia nhóm có thể theo nhiều cách: Nhóm đôi , nhóm ngẫu nhiên, nhóm hỗn hợp và nhóm phân theo trình độ. Trong DHPH, nhóm hỗn hợp được sử dụng khi nhiệm vụ của các nhóm là như nhau, với mục đích là HS giỏi sẽ giúp đỡ HS yếu hơn. Nhóm theo trình độ được sử dụng khi mức độ yêu cầu của nhiệm vụ từng nhóm khác nhau, để mỗi nhóm được yêu cầu làm những bài tập với độ khó khác nhau.

– Giao tiếp trong dạy học phân hóa: GV cần có kĩ thuật nói rõ ràng, tốc độ vừa phải, dễ nghe, thân thiện nhưng nghiêm túc và luôn khuyến khích. Không nên gay gắt hay nặng lời với những HS yếu kém. Với mỗi trường hợp, cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ HS phù hợp.

4. Kết quả vận dụng modun TH 32 trong quá trình giảng dạy.

Bản thân tôi đang áp dụng việc dạy học phân hoá trong các giờ lên lớp. Thực tế khẳng định dạy học phân hoá góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, hạn chế học sinh yếu kém, khuyến khích được những học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu phát triển ở mức cao hơn.

Dạy học phân hoá trong các tiết học được tôi chuẩn bị chu đáo từ khâu soạn bài, đặc biệt là bài dạy buổi hai, nội dung phân hoá được thể hiện rất rõ. Học sinh yếu, trung bình yêu cầu nắm được các kiến thức, kĩ năng cơ bản của môn học. Học sinh khá – giỏi ngoài những yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bản như trung bình cần có thêm những kiến thức mở rộng, nâng cao theo chiều sâu trên nền kiến thức cơ bản.

Học sinh yếu đưa ra các câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp các em nắm dược các kiến thức cơ bản của môn học. Với học sinh khá giỏi đưa thêm câu hỏi mở rộng để phát huy khả năng sáng tạo của các em. Hệ thống bài tập từ dễ đến khó và có yêu cầu cho từng nhóm trình độ. Bài tập dành cho học sinh TB yếu ở dạng đơn giản, khuyến khích để các em phấn đấu làm một phần bài tập của nhóm có trình độ cao hơn. Học sinh khá giỏi có thêm các bài tập ở dạng phức tạp hơn phù hợp với khả năng phát triển của học sinh.

Trong tiết dạy học phân hoá tôi áp dụng nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như: trò chơi học tập, học cá nhân, học nhóm, đôi bạn cùng tiến, học chung cả lớp để tạo hứng thú học tập cho các em.

Việc kiểm tra đánh giá cũng được tôi chú trọng trong tiết dạy. Kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng động viên, khuyến khích. Kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ. Giúp học sinh tự nhận xét, tham gia nhận xét bạn.

* Tự đánh giá

Nhận thức: …..điểm

Vận dụng: ……điểm

Tổng điểm: …….điểm

* MODULE TH 33: THỰC HÀNH DẠY HỌC PHÂN HOÁ Ở TIỂU HỌC

Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (Cá nhân) hoặc nhóm người học. Ở tiểu học DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức kỹ năng làm nền cơ bản, ngoài kế hoạch dạy học thông thường thì dạy học phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp đưa học sinh yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá giỏi phát triển ở mức cao hơn.

Các bước lập kế hoạch dạy học phân hóa phải phù hợp với điều kiện và đối tượng dạy học.

Với ý nghĩa đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với học sinh tiểu học đồng thời khuyến khích phát triển tối đa những khả năng của cá nhân học sinh trong quá trình học tập, thì DHPH đang được xem là một giải pháp phổ biến hiện nay. Thiết kế bài học phải dựa vào chuẩn KTKN và tình hình thực tế của lớp học, đối tượng học sinh.

1. Thiết kế bài dạy dạy học phân hoá trong dạy học buổi hai.

Toán – Lớp 3

LUYỆN ĐỌC, VIẾT CÁC SỐ CÓ NĂM CHỮ SỐ

I. Mục tiêu:

1. Kiến thức: Giúp HS biết đọc, viết các số có năm chữ số. Biết tìm số liền trước, số liền sau và biết các số tròn nghìn, tròn trăm, chòn chục có 5 chữ số.

2. Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc, viết các số có năm chữ số. Viết được số liền trước, số liền sau của một số. Viết được các số tròn nghìn, tròn trăm, chòn chục có 5 chữ số.

3. Thái độ: Biết tự học, hợp tác, chia sẻ.

* Phân hóa: Học sinh ở mức HT và chưa HT cần làm được các bài tập 1,2,3, 4; học sinh hoàn thành tốt có thể làm thêm bài tập 5.

4. Đồ dùng D- H:

Phiếu Hướng dẫn học.

III. Các hoạt động dạy học:

*KĐ: TB văn nghệ cho các bạn KĐ

1. Hoạt động thực hành:

Bài 1: Đọc số: 35890; 33133; 99999; 46609; 50057

Bài 2:: Điền số thích hợp vào chỗ trống:

  1. a) 12000, 13000, …..,……..,16000, ………., 18000.
  2. b) 23000, 23100, …..,……..,………., 23500
  3. c) 91210, 91220, ……, ……, 91250, ……….

Bài 3: Viết số vào ô trống:

Số liền trước

Số đã cho

Số liền sau

10 534

43 005

62 070

39 999

Bài 4*: (k-g)

Cho các số 0,3,5,2. Hãy viết số lớn nhất và số bé nhất có 4 chữ số khác nhau từ 4 chữ số đã cho. Tính tổng hai số đó?

1. Hoạt động ứng dụng:

*Em tự viết: Số nhỏ nhất có 5 chữ số, số lớn nhất có 5 chữ số, số chẵn lớn nhất có 5 chữ số.

2. Dạy thực hành: (Tại lớp 3A)

3. Kết quả vận dụng module TH 33 trong quá trình giảng dạy.

Các tiết dạy được tôi chú trọng đến dạy học phân hoá đối tượng, đặc biệt trong tiết dạy buổi hai, ngay từ khâu thiết kế bài dạy đã thể hiện rõ phân hoá đối tượng học sinh. Học sinh yếu, trung bình đưa ra các nội dung kiến thức, kĩ năng cơ bản theo chuẩn KTKN. Học sinh khá – giỏi có thêm những kiến thức mở rộng, nâng cao theo chiều sâu trên nền kiến thức cơ bản. Hệ thống bài tập từ dễ đến khó và yêu cầu từng nhóm hoàn thành bài. Bài tập dành cho học sinh TB yếu ở dạng đơn giản. Khuyến khích để các em phấn đấu làm một phần bài tập của nhóm có trình độ cao hơn. Học sinh khá giỏi có thêm các bài tập ở dạng phức tạp hơn phù hợp với khả năng phát triển của học sinh.

Trong tiết dạy tôi luôn quan tâm tới từng đối tượng học sinh, phát huy khả năng học tập của từng em. Học sinh yếu đưa các câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp các em nắm được các kiến thức cơ bản của môn học. Với học sinh khá giỏi đưa thêm câu hỏi mở rộng để phát huy khả năng sáng tạo của các em.

Linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học: Hỏi đáp (Học sinh TB -Y câu hỏi dễ, đơn giản; HS K-G câu hỏi khó, khái quát hơn), thảo luận nhóm, luyện tập thực hành, trò chơi,…. tạo hứng thú cho các em học tập.

5. Tự đánh giá

Nhận thức: 4 điểm

Vận dụng: 4 điểm

Tổng điểm: 8 điểm

*MÔ ĐUN TH 15: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC

I. Nội dung

1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn rất nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.

Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.

2. Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học.

Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, học sinh phải tích cực chủ động về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được. Vì vậy, nếu học sinh không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học. Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể. Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học.

3. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực.

3.1. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự bản thân khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được giáo viên sắp đặt. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.

3.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học, trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.

3.3. Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác.

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi các hoạt động độc lập.

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy với trò, trò với trò, trò với thầy, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Trong lớp học, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở nhóm, tổ, lớp. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ.

3.4. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.

Trước đây giáo viên đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tự đánh giá bản thân và được tham gia đánh giá bạn. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.

Việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Giáo viên cần có sự hiểu biết sâu rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

4. Một số phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học.

a. Phương pháp vấn đáp

* Vấn đáp: Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

* Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

* Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn.

* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định.

b. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống. Vì vậy, tập cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:

* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

– Tạo tình huống có vấn đề.

– Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.

– Phát hiện vấn đề cần giải quyết.

* Giải quyết vấn đề đặt ra:

– Đề xuất cách giải quyết.

– Lập kế hoạch giải quyết.

– Thực hiện kế hoạch giải quyết.

* Kết luận:

– Thảo luận kết quả và đánh giá.

– Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.

– Phát biểu kết luận.

– Đề xuất vấn đề mới.

* Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

c. Phương pháp hoạt động nhóm: Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết hay năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

* Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

Làm việc chung cả lớp:

+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

+ Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ

+ Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.

Làm việc theo nhóm:

+ Phân công trong nhóm.

+ Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm.

+ Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm.

Tổng kết trước lớp:

+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.

+ Thảo luận chung.

+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia.

d. Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một số tình huống giả định. Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:

– Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và kĩ năng bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.

– Gây hứng thú và sự chú ý cho tất cả học sinh.

– Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.

– Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực.

* Cách tiến hành có thể như sau:

– Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm, thời gian đóng vai.

– Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.

– Các nhóm lên đóng vai.

– Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai.

– Vì sao em lại ứng xử như vậy?

– Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử?

– Cả lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?

– Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống.

* Những điều cần lưu ý khi sử dụng:

– Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị.

– Học sinh phải hiểu rõ tâm thế của mình trong bài tập đóng vai.

– Nên khích lệ cả những học sinh còn rụt rè, nhút nhát tham gia.

e. Phương pháp động não

Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm chủ thể.

* Cách tiến hành:

– Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

– Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

– Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to.

– Phân loại ý kiến.

– Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận rõ từng ý.

Kết quả vận dụng modun TH 15 trong quá trình giảng dạy.

Qua học tập nghiên cứu modun TH 15 về phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học, bản thân tôi đã vận dụng vào quá trình dạy học và bước đầu nhận thấy chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt, đặc biệt các em được phát triển toàn diện hơn, năng động, tự tin hơn, hình thành những năng lực, phẩm chất cần thiết góp phần giáo dục con người phát triển toàn diện.

Một số phương pháp dạy học tích cực được tôi thường xuyên áp dụng trong quá trình giảng dạy như: phương pháp vấn đáp, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp học tập hợp tác nhóm, phương pháp đóng vai và phương pháp trò chơi dạy học.

* Tự đánh giá

Nhận thức: 4 điểm

Vận dụng: 4 điểm

Tổng điểm: 9 điểm

…….. ngày ……..tháng ……..năm ……….

Người viết báo cáo

2. Báo cáo kết quả Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên số 2

TRƯỜNG TIỂU HỌC…………

TỔ KHỐI….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO KẾT QUẢ NỘI DUNG

VẬN DỤNG KIẾN THỨC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CÁ NHÂN

NĂM HỌC 2018 – 2019

Họ và tên: …………………… Ngày sinh: …………………

Trình độ chuyên môn:………. Năm vào ngành:……………

Chức vụ: ………… Tổ chuyên môn: Tổ khối ….

Nhiệm vụ được phân công trong năm học 2018 – 2019: Dạy lớp…….

Căn cứ công văn số 14/HD-PGDĐT ngày 04/09/2018 của Phòng Giáo dục và Đào tạo………… về Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý, giáo viên Tiểu học năm học 2018-2019

Thực hiện kế hoạch BDTX năm học 2018- 2019 của Trường Tiểu học ……………..

Căn cứ kế hoạch đăng kí của bản thân, tôi xin báo cáo kết quả thực hiện BDTX cá nhân năm học 2018-2019 như sau:

Chuyên đề: Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2018 – 2019 cấp tiểu học.

Phần 1: Kiến thức, kĩ năng quy định trong mục đích, nội dung chương trình, tài liệu

BDTX:

Sau quá trình nghiên cứu về Chuyên đề: Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2018 – 2018 cấp tiểu học. Bản thân tôi đã tiếp thu được những kiến thức và kĩ năng sau:

A. Nhiệm vụ chung

– Tăng cường nền nếp, kỷ cương và chất lượng, hiệu quả công tác trong các cơ sở giáo dục tiểu học, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện nội dung các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành phù hợp điều kiện thực tế địa phương.

– Tiếp tục chỉ đạo việc quản lý, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống; đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học và thực hiện tốt đổi mới đánh giá học sinh tiểu học; tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; bảo đảm các điều kiện và triển khai dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới; duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia và tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.

– Khuyến khích sự sáng tạo và đề cao trách nhiệm của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, thực hiện quyền tự chủ của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch giáo dục đi đôi với việc nâng cao năng lực quản trị nhà trường, trách nhiệm giải trình của đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ và chức năng giám sát của xã hội, kiểm tra của cấp trên. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý.

B. Nhiệm vụ cụ thể

I. Phát huy hiệu quả, tiếp tục thực hiện nội dung các cuộc vận động và phong trào thi đua

1. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, củng cố kết quả các cuộc vận động chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, tập trung các nhiệm vụ:

– Thực hiện tốt các quy định về đạo đức nhà giáo, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề nghiệp; tạo cơ hội, động viên, khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục học tập và sáng tạo; ngăn ngừa và đấu tranh kiên quyết với các biểu hiện vi phạm pháp luật và đạo đức nhà giáo.

– Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 2325/CT-BGDĐT ngày 28/6/2013 về việc Chấn chỉnh tình trạng dạy học trước chương trình lớp 1; Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm; Chỉ thị số 5105/CT-BGDĐT ngày 03/11/2014 về việc Chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm đối với giáo dục tiểu học; Công văn số 2449/BGDĐT-GDTH ngày 27/5/2016 về việc khắc phục tình trạng chạy trường, chạy lớp.

– Thực hiện đúng các quy định về quản lý tài chính trong các trường tiểu học; các quy định tại Công văn số 5584/BGDĐT ngày 23/8/2011 về việc tiếp tục chấn chỉnh tình trạng lạm thu trong các cơ sở giáo dục; tại Thông tư số 29/2012/TT-BGDĐT ngày 10/9/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc tài trợ cho các cơ sở giáo dục. Tăng cường kiểm tra công tác thu đầu năm học và kiểm tra xử lý các khoản thu không đúng quy định nhằm chấn chỉnh tình trạng lạm thu đầu năm học.

2. Tiếp tục thực hiện sáng tạo các nội dung của hoạt động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, chú trọng các hoạt động:

– Đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, hoạt

động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và cộng đồng cùng tham gia chăm sóc giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh.

Thực hiện Chỉ thị 1537/CT-BGDĐT ngày 05/5/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động giáo dục cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 ban hành quy định về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa;

Thông tư số 07/2014/TT-BGDĐT ngày 14/3/2014 quy định về hoạt động chữ thập đỏ trong trường học; Quyết định số 410/QĐ-BGDĐT ngày 04/02/2016 ban hành kế hoạch triển khai

Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020” của ngành giáo dục; Kế hoạch 152/KH-SGDĐT ngày 11/10/2017 của Sở GDĐT về triển khai giảng dạy học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong trường phổ thông.

– Đẩy mạnh các giải pháp nhằm xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp; tổ chức cho học sinh thực hiện lao động vệ sinh trường, lớp học và các công trình trong khuôn viên nhà trường; đủ nhà vệ sinh sạch sẽ cho học sinh và giáo viên, có chỗ vệ sinh phù hợp cho học sinh khuyết tật.

– Tổ chức cho học sinh hát Quốc ca tại Lễ chào Cờ Tổ quốc; thực hiện có nền nếp việc tập thể dục giữa giờ, các bài tập thể dục tại chỗ trong học tập, sinh hoạt cho học sinh.

– Đưa các nội dung giáo dục văn hoá truyền thống, giáo dục thông qua di sản vào nhà trường.

Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí tích cực, các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian, dân ca, ngoại khoá phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương.

Hướng dẫn học sinh tự quản, chủ động tự tổ chức, điều khiển các hoạt động tập thể và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

– Tổ chức 1 “Tuần làm quen” đầu năm học mới đối với lớp 1 nhằm giúp học sinh thích nghi với môi trường học tập mới ở tiểu học và vui thích khi được đi học.

– Tổ chức Lễ khai giảng năm học mới gọn nhẹ, vui tươi, tạo không khí phấn khởi cho học sinh bước vào năm học mới. Trong đó, dành thời gian tổ chức lễ đón học sinh lớp 1, tạo ấn tượng và cảm xúc cho học sinh.

II. Thực hiện chương trình giáo dục

Chủ động thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục, nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục:

1. Tiếp tục chỉ đạo đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT.

– Trên cơ sở đánh giá hai năm thực hiện Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường tiểu học cần rút kinh nghiệm, phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế trong việc đánh giá, xếp loại học sinh.

– Trong quá trình thực hiện, vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của giáo viên, sĩ số lớp học, vùng miền; thực hiện theo khả năng cho phép trong việc đánh giá thường xuyên để giúp đỡ học sinh nâng cao chất lượng giáo dục.

– Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý kết quả giáo dục và học tập của học sinh để giảm áp lực về hồ sơ, sổ sách, giáo viên có nhiều thời gian quan tâm đến học sinh và đổi mới phương pháp dạy học.

2. Lựa chọn và triển khai các mô hình, phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện tại địa phương

– Các cơ sở giáo dục tiểu học nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các mô hình, các phương pháp dạy học tích cực như: Mô hình trường học mới, phương pháp “Bàn tay nặn bột”, phương pháp dạy học Mĩ thuật, thư viện thân thiện… một cách linh hoạt, phù hợp và hiệu quả; không áp đặt một cách máy móc.

– Kiên quyết không triển khai các phương thức giáo dục, phương pháp dạy học nêu trên ở những cơ sở giáo dục chưa đáp ứng các điều kiện đảm bảo.

3. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng dạy và học Ngoại ngữ, Tin học, đặc biệt là tiếng Anh

– Tiếp tục triển khai dạy và học Ngoại ngữ, Tin học, đặc biệt là tiếng Anh để chuẩn bị tốt cho việc triển khai các môn học này với tư cách là môn học bắt buộc trong Chương trình Giáo dục phổ thông mới, góp phần tích cực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện để hội nhập sâu với khu vực và quốc tế. Tiếp tục triển khai dạy học tiếng Anh 4 tiết/tuần cho 28 trường tiểu học và triển khai mới ở 05 trường tiểu học (32/32 trường tiểu học triển khai tiếng Anh 4 tiết/tuần, tỉ lệ 100,0%). Triển khai nhân rộng các mô hình trường điển hình về dạy học ngoại ngữ trên cơ sở tận dụng, phát huy tối đa hiệu quả các điều kiện hiện có của mỗi trường.

4. Tiếp tục điều chỉnh nội dung dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành một cách hợp lý

– Trên cơ sở hướng dẫn của Sở GDĐT về việc tinh giản, lược bớt những nội dung trùng lặp, không phù hợp đối với học sinh tiểu học; nhưng không cắt xén cơ học mà tập trung vào đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả… nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hướng đến phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh.

– Tiếp tục tổ chức hiệu quả sinh hoạt chuyên môn (SHCM) tại các tổ chuyên môn trong trường hoặc giữa các trường tiểu học; chú trọng đổi mới nội dung và hình thức SHCM thông qua hoạt động dự giờ, nghiên cứu bài học. Khuyến khích giáo viên tham gia SHCM qua trang mạng thông tin “Trường học kết nối”.

5. Các đơn vị tổ chức rà soát CSVC, đội ngũ giáo viên đảm bảo các điều kiện để chuẩn bị cho thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới

Các địa phương cần tập trung triển khai rà soát để đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, trình độ đào tạo của giáo viên, nâng cao chất lượng dạy, học 2 buổi/ngày để đảm bảo các điều kiện để chuẩn bị cho thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới.

– Về chuẩn bị đội ngũ giáo viên, hiệu trưởng các trường tiểu học chủ động rà soát, Phòng GDĐT tổng hợp cụ thể số lượng đội ngũ giáo viên, xác định nhu cầu về đội ngũ đáp ứng theo lộ trình thực hiện đổi mới giáo dục. Đồng thời có biện pháp giải quyết số giáo viên thừa, thiếu của từng trường, đảm bảo áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới. Trước mắt, năm học 2019-2020 khối lớp 1 dạy 2 buổi/ngày và khối lớp 2, 3, 4 và 5 ở những năm tiếp theo – Đảm bảo tỉ lệ 1,5 GV/lớp.

– Đối với các trường phải tập trung thực hiện mục tiêu dạy học 02 buổi/ngày. Trước mắt, Phòng GDĐT các rà soát tổng hợp số liệu cụ thể về phòng học đảm bảo đủ phòng học dạy 2 buổi/ngày ở lớp 1 năm học 2019-2020 và lớp 2 ở năm học 2020-2021.

6. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới công tác quản lý giáo dục

– Các đơn vị cần tích cực đổi mới hơn nữa công tác quản lý, quản trị trường học, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, nâng cao vai trò, trách nhiệm, lương tâm, đạo đức nhà giáo; mỗi thầy, cô giáo phải thực sự là tấm gương sáng cho các em học sinh noi theo. Kiên quyết “nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”.

Đối với các trường, lớp dạy học 2 buổi/ngày

Thời lượng tối đa 7 tiết học/ngày. Hiệu trưởng chủ động xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu:

– Các trường tiểu học có đủ điều kiện về phòng học được chọn dạy 2 buổi/ngày ở 2 khối lớp:

. Lớp 1

. Lớp 5 hoặc lớp 2

+ Khuyến khích dạy 2 buổi/ngày toàn trường từ nguồn kinh phí xã hội hóa.

+ Học sinh được tự học có sự hướng dẫn của giáo viên để hoàn thành nội dung học tập tại lớp. Dạy học các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn; tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khoá,…

+ Đối với những vùng khó khăn, vùng có đông học sinh dân tộc thiểu số, việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày cần lưu ý tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tăng cường tiếng Việt bằng nhiều hình thức, đa dạng và phong phú để học sinh có nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt.

– Các đơn vị chủ động tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành và triển khai Chính phủ điện tử theo hướng đồng bộ, kết nối liên thông; hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý Nhà nước về giáo dục tiểu học.

7. Tiếp tục xây dựng và quản lý môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, an toàn, thân thiện, chất lượng và bình đẳng

– Các đơn vị trường tiểu học xây dựng và quản lý tốt môi trường giáo dục dân chủ, an toàn và thân thiện.

– Cần chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống, kĩ năng tự bảo vệ bản thân tránh bị xâm hại, bạo lực; thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe và y tế trường học…

III. Sách, thiết bị dạy học

1. Sách

Sách quy định tối thiểu đối với mỗi học sinh:

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

Tiếng Việt 1 (T1)

Tiếng Việt 2 (T1)

Tiếng Việt 3 (T1)

Tiếng Việt 4 (T1)

Tiếng Việt 5 (T1)

Tiếng Việt 1 (T2)

Tiếng Việt 2 (T2)

Tiếng Việt 3 (T2)

Tiếng Việt 4 (T2)

Tiếng Việt 5 (T2)

Vở Tập viết 1(T1)

Vở Tập viết 2(T1)

Vở Tập viết 3(T1)

Đạo đức 4

Đạo đức 5

Vở Tập viết 1(T2)

Vở Tập viết 2 (T2)

Vở Tập viết 3(T2)

Lịch sử-Địa lí 4

Lịch sử-Địa lí 5

Toán 1

Toán 2

Toán 3

Toán 4

Toán 5

Tự nhiên-Xã hội 1

Tự nhiên-Xã hội 2

Tự nhiên-Xã hội 3

Khoa học 4

Khoa học 5

Âm nhạc 4

Âm nhạc 5

Mĩ thuật 4

Mĩ thuật 5

Kĩ thuật 4

Kĩ thuật 5

– Các trường tiểu học xây dựng tủ sách dùng chung; bảo đảm ngay từ khi bước vào năm học mới tất cả học sinh đều có sách giáo khoa để học tập.

– Giáo viên cần hướng dẫn sử dụng sách, vở hàng ngày để học sinh không phải mang theo nhiều sách, vở khi tới trường; sử dụng có hiệu quả sách và tài liệu của thư viện nhà trường.

Nơi có điều kiện thì tổ chức cho học sinh để sách vở, đồ dùng học tập tại lớp.

– Khuyến khích các trường áp dụng mô hình “thư viện xanh”, “thư viện thân thiện”… phù hợp điều kiện thực tế.

2. Thiết bị dạy học

Tổ chức kiểm tra, rà soát thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (TBDH) để có kế hoạch sửa chữa và bổ sung kịp thời theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu đã ban hành (Thông tư số 15/2009/TT-BGDĐT ngày 16/7/2009), đồng thời quản lý tốt việc sử dụng và bảo quản đồ dùng dạy học. Thực hiện Công văn số 7842/BGDĐT-CSVCTBTH ngày 28/10/2013 về việc đầu tư mua sắm thiết bị dạy học, học liệu các cơ sở giáo dục đào tạo.

IV. Duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và xây dựng trường chuẩn

quốc gia

1. Duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học

– Triển khai thực hiện Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT ngày 22/3/2016 về Quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

2. Xây dựng trường tiểu học theo chuẩn quốc gia

– Đối với các trường đã đạt chuẩn quốc gia được 5 năm, tiến hành kiểm tra, rà soát, công nhận lại và lập kế hoạch xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Mức độ 1 và Mức độ 2.

Phần 2: Vận dụng kiến thức BDTX vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục:

– Giúp giáo viên có định hướng tốt hơn trong việc xác định những việc cần làm và không nên làm trong qui chế chuyên môn.

– Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2018 – 2019 cấp tiểu học còn giúp giáo viên thực hiện tốt công tác giảng dạy, nâng cao sự hiểu biết về qui định của ngành, những phẩm chất đạo đức của nhà giáo, đưa ra những mục tiêu mà giáo viên cần phấn đấu thực hiện để nâng cao chất lượng giáo dục, giảng dạy cho học sinh.

Trên đây là nội dung tiếp thu và vận dụng của cá nhân. Tôi xin thông qua và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thành viên trong tổ.

…………, ngày ….. tháng … năm 2019

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong phần biểu mẫu nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button