Phim

Top 10 bộ phim thần thoại Nhật Bản hay nhất

Top 10 bộ phim thần thoại Nhật Bản hay nhất

Yokai là những sinh vật thần thoại, siêu nhiên từng có mặt trong truyện cổ tích và truyện kể dân gian Nhật Bản suốt bao thế hệ.
Trong văn hóa Nhật Bản, yokai dần trở thành một mảnh ghép quan trọng không thể thiếu tại quốc gia này. Trẻ em Nhật Bản biết và hiểu về các loài yokai từ khi còn nhỏ, được nuôi dưỡng từ các câu chuyện dân gian hãi hùng và lớn lên mang theo niềm say mê với các tạo vật huyền bí, chính vì vậy nó sẽ là một phần của điện ảnh Nhật Bản với những bộ phim được chuyển thể dựa trên những câu chuyện thần thoại của Nhật Bản. Kinh dị cũng có, rùng rợn cũng có mà mang màu sắc huyền ảo cũng có. TopList sẽ giới thiệu cho các bạn top 10 phim thần thoại Nhật Bản hay nhất mọi thời đại.

Hotarubi no mori

Hotaru no mori không phải cái tên lạ. Những bạn thích lang thang download truyện tranh trên internet đều đã đọc qua nó vào lúc này hay lúc khác, chỉ có điều có lẽ không phải ai trong số họ cũng biết là oneshot “Hotaru no Mori” không chỉ có “Khu Rừng Đom Đóm” – “Into the Forest of Fireflies’s Light” (câu chuyện thứ 2) mà còn 3 câu chuyện khác nữa. Hotarubi no Mori ra mắt tại Nhật ngày 17 tháng 9 năm 2011. DVD và đĩa Bluray: Limited edition của anime được phát hành tại Nhật ngày 22 tháng 2 năm 2012. Phiên bản hạn chế này bao gồm một bộ tranh minh hoạ, sticker, một cuốn sổ giới thiệu dài 40 trang, dây đeo điện thoại có hình mặt nạ của Gin và những vật phẩm số lượng có hạn khác. Phiên bản DVD không kèm khuyến mãi và vật phẩm cùng được phát hành song song. Hotarubi no mori là một bộ phim anime có tên gọi khác là Into the Forest of Fireflies Light. Đây là một trong những anime hay nhất của đạo diễn Takahiro Omori có nội dung được chuyển thể từ một manga nổi tiếng cùng tên.

Câu chuyện xoay quanh cô bé có tên Hotaru, cô đã gặp một chàng trai có tên Gin trong một lần đi lạc vào rừng sâu. Đây là một chàng trai kì lạ, khi ai chạm vào cậu ta, cậu ta sẽ lập tức biến mất. Gin đã dẫn Hotaru ra khỏi khu rừng này. Thực chất, Gin chỉ là một linh hồn trong khu rừng của Sơn Thần. Hotaru không thể chạm vào cậu ấy vì Gin không phải con người, nếu bị con người chạm phải cậu sẽ tan biến mãi mãi. Tình bạn của họ bắt đầu từ đó, trải qua rất nhiều mùa hè hạnh phúc nhưng khi Hotaru lớn dần lên, cô vẫn không quên người bạn đó, thỉnh thoảng Hotaru vẫn ghé thăm Gin. Cảm xúc càng mãnh liệt bao nhiêu thì khao khát được chạm vào nhau càng lớn bấy nhiêu. Rồi bất chợt, trong buổi dạo chơi ấy, Gin đã vô tình nắm lấy tay một đứa bé khi nó vấp ngã và đó là con người, Gin dần tan biến thành những tinh linh nhỏ mà xanh. Họ cười trong nước mắt vì cuối cùng cũng có thể chạm vào nhau. Hotaru ôm Gin lần cuối, để rồi cậu tan biến mãi mãi, chỉ còn lại bộ quần áo. Bộ phim lấy được nước mắt của rất nhiều người xem.

Hotarubi no mori.
AMV Hotarubi no mori.

Yōkai Daisensō

Yōkai Daisensō bộ phim được sản xuất vào năm 2012. Có tên gọi khác là Yokai Ningen Bem – Humanoid Monster Bem được gắn mác kinh dị. Yokai là những sinh vật thần thoại, siêu nhiên từng có mặt trong truyện cổ tích và truyện kể dân gian Nhật Bản suốt bao thế hệ. Yokai O-dokuro (Độc đại lâu) trong bức tranh nổi tiếng Mitsukuni chống lại Yêu quái xương của Utagawa Kuniyoshi. Suốt nhiều thế kỷ, chúng đã rình rập rừng núi, đồng ruộng, sông ngòi và bờ biển Nhật Bản. Một số có hình dạng động vật, một số mang lốt người. Một số khác vốn là những đồ vật vô tri vô giác nhưng đã sở hữu hình hài có trí khôn. Một số là hình tượng nhân hóa của các hiện tượng tự nhiên. Một số được cho là có ích, tuy có phần nghịch ngợm nhưng nhát cáy. Một số khác lại cực kỳ nguy hiểm, luôn xuất hiện khi tắt đèn và trở thành nỗi sợ hãi của biết bao người khi trời tối.

Nội dung bộ phim được làm dựa trên bộ anime nổi tiếng từ những năm thập niên 60, phim xoay quanh 3 Yokai – ác quỷ. Nhắc tới ác quỷ, ai cũng nghĩ đó là những thế lực hắc ám luôn tìm cách hãm hại con người. Tuy nhiên họ không tấn công con người mà luôn chiến đấu để chống lại những Yokai khác đang muốn tấn công con người. Mặc dù xuất phát từ mục đích tốt, họ đang bảo vệ con người nhưng điều đó đâu dễ dàng khiến con người có thể tin tưởng, không còn sợ hãi và ở bên cạnh họ?Có thể nói yokai đại diện cho nỗ lực tưởng tượng phong phú của con người nhằm gán ý nghĩa và tính hợp lý cho một thế giới hỗn loạn, không thể lường trước và giải thích được. Chúng là thứ rình rập trong màn đêm, hiện thân cho nỗi sợ hãi, cho số phận của chúng ta. Yokai về cơ bản là những tư tưởng mê tín được nhân cách hóa.

Yokai ningen Bem - Monster.
Yokai ningen Bem – Monster.
Yokai ningen Bem – Monster.

Momo e no Tegami

Momo e no Tegami là một bộ phim mang đậm phong cách hoạt hình Nhật Bản: mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng ý nghĩa. Bộ phim đã được gửi đi tham dự nhiều liên hoan phim quốc tế và được dịch ra nhiều thứ tiếng để phân phối tại nhiều nước trên thế giới. Đến với Momo e no Tegami, người xem sẽ được bước vào một thế giới ngộ nghĩnh, đáng yêu và hài hước nhưng không kém phần cảm động và sâu sắc. Momo e no Tegami hay còn được gọi là A Letter to Momo – Lá Thư Gửi Momo là một bộ phim anime của đạo diễn Hiroyuki Okiura. Momo là một cô bé chuyển đến vùng nông thôn của Nhật Bản để sinh sống. Momo đã khám phá ra rất nhiều những thứ kì lạ khác từ lá thư cuối cùng mà cha cô gửi cho.

Một cô gái 11 tuổi đang có khoảng thời gian khó khăn để làm quen với cuộc sống mới sau khi cha của cô đột ngột qua đời do tai nạn khi đang đi công tác. Cuộc sống của Momo càng rối ren hơn nữa khi có 3 yōkai – ác quỷ xuất hiện để bảo vệ cô, mỗi yōkai có tính cách riêng. Ba ác quỷ này làm loạn lên thì đúng hơn là đang giúp đỡ Momo. Thời gian dần trôi đi, Momo cũng nhận ra là sự xuất hiện của 3 yōkai này chắc hẳn phải có liên quan đến lá thư chỉ có hai chữ vẻn vẹn mà cô đang cố hiểu. Tuy không có nhiều cảnh thần tiên hay cả một thế giới thần đạo như Spirited Away, “A letter to Momo” vẫn đủ sức càn quét các giải thưởng như Tokyo Anime Award, Awards of the Japanese Academy, Asia Pacific Screen Awards và Annie Awards. Phim cũng từng được công chiếu khi tham gia tuần lễ giao lưu văn hóa Việt Nhật.

Momo e no Tegami.
Momo e no Tegami.
Momo e no Tegami trailer.

The Great Yokai War.

Thời đại hoàng kim của yokai vào khoảng đầu đến giữa những năm 1800, ngay trước khi Nhật Bản mở cửa với phương Tây và bắt đầu hiện đại hóa. Sau khi được mài giũa bởi bao thế hệ người kể chuyện, yokai dần dần được nhào nặn thành hình trong những trang sách, tranh khắc gỗ, sách cuộn, tượng… Thời ấy, người lớn say mê tìm đọc các câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ với yokai, trẻ con thì sưu tập các thẻ bài vẽ hình yokai. Yokai còn được gọi là Ayakashi, Mononoke. Đôi khi chúng độc ác, phá phách hoặc mang lại xui xẻo, đôi khi lại mang đến may mắn. Chúng có thể ở bất kỳ đâu, từ rừng núi, đồng ruộng, sông suối tới nhà tắm và nhà vệ sinh. Hình dạng của Yokai cũng kỳ dị, thường lai giữa động vật và người (Kappa – Hà Đồng), đôi khi đi liền với các hiện tượng tự nhiên như mưa bão (Yuki-Onna), hoặc đôi khi lại là một vật vô tri (Tsukumogami).

The Great Yokai War là một bộ phim viễn tưởng của đạo diễn Takashi Miike. Với dàn diễn viên Ryunosuke Kamiki, Chiaki Kuriyama, Etsushi Toyokawa thủ vai chính. Nội dung của bộ phim kể về một cậu nhóc 10 tuổi. Có nên nói là tuổi thơ của cậu khá bất hạnh khi cha mẹ cậu li dị năm cậu 10 tuổi? Do vậy, cậu phải về quê sống cùng ông bà ngoại. Một câu chuyện ngụ ngôn mô tả những sinh vật Yokai sống trong khu rừng địa phương rộng lớn. Một đêm, cậu bé khám phá khu rừng để xác thực sợi tơ mà cậu vừa được kéo thành sợi nhưng những tiếng động trong khu rừng khiến cậu sợ hãi và vì vậy cậu chạy vội về nhà. Sau đó, anh trải qua một giấc mơ / viễn cảnh rằng ông của anh đã bị bắt cóc và đang bị giam giữ trong rừng, vì vậy anh lấy hết can đảm để thăm lại khu rừng trong nỗ lực cứu người gaurd của mình… Mọi chuyện bắt đầu từ đó. Cậu đã gặp những hồn ma để rồi từ từ khám phá ra một âm ưu thâu tóm thế giới cực kì khủng khiếp. Dựa trên những câu chuyện về thần thoại của Nhật Bản, bộ phim đem đến những cung bậc cảm xúc khác nhau cho người xem.

The Great Yokai War.
The Great Yokai War.
The Great Yokai War.

Ugetsu Monogatari

Ugetsu Monogatari là một bộ phim của đạo diễn Kenji Mizoguchi với 8.2 điểm IMDB. Masayuki Mori, Machiko Kyo, Kinuyo Tanaka là những diễn viên chính tham gia bộ phim. Ugetsu kể về hai gia đình ở nông thôn, gia đình của Genjuro, một thợ gốm cùng vợ Miyagi, và Tobei, một nông dân cùng vợ Ohama. Khi chiến tranh xảy ra, quân lính của Shibata Katsuie kéo đến làng và bắt đàn ông trong làng đi lao động khổ sai. Hai gia đình phải rời làng, nhưng Genjuro và Tobei muốn đi đến thị trấn lớn để bán đồ gốm kiếm thật nhiều tiền. Vì còn có con, Miyagi cõng Genichi về nhà, còn Ohama đi với chồng mình cùng Genjuro đến thị trấn bán đồ gốm. Ở thị trấn lớn, Tobei sinh lòng muốn làm samurai, còn Genjuro lại bị một thiếu nữ quý tộc trẻ quyến rũ và ở lại đó với cô ta, bỏ mặc vợ con không biết sống chết ra sao. Cuối cùng, hai người đàn ông này cũng nhận ra chân lý và quay trở về làng quê.

Mizoguchi lại cho thấy lòng nhân ái với các nhân vật nữ khi ông thể hiện những cảnh nhạy cảm của họ một cách rất tế nhị, như cảnh Ohama bị bọn lính bắt đi, cảnh quay đôi dép và miếng xương tượng trưng cho việc nàng bị cưỡng bức. Các thảm kịch được chuyển tải nhẹ đi rất nhiều – không khóc lóc, oán thán, thậm chí việc Miyagi chết cũng không xuất hiện trên màn ảnh mà chỉ được tường thuật lại qua lời kể của trưởng làng. Việc giảm nhẹ các thảm kịch này càng tôn vinh thêm sự hi sinh vô điều kiện, không chút kêu than của những người phụ nữ trong phim. Đây là một câu chuyện ma và một điển tích thuộc thể loại jidaigeki (phim truyền hình cổ trang), với sự tham gia của Masayuki Mori và Machiko Kyō . Ugetsu là một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của Mizoguchi, được giới phê bình coi là kiệt tác của điện ảnh Nhật Bản . Nó được ghi nhận là đã đồng thời giúp phổ biến điện ảnh Nhật Bản ở phương Tây và ảnh hưởng đến điện ảnh Nhật Bản sau này.

Ugetsu Monogatari
Ugetsu Monogatari
Ugetsu monogatari (1953) trailer.

Onibaba

Ở Nhật, từ yokai (tức yêu quái) dùng để chỉ những thực thể siêu nhiên đi lang thang trong thế giới người sống. Tương truyền rằng không chỉ con người hay thú vật, đồ vật nếu tích tụ âm khí đủ 100 năm cũng có thể trở thành yokai. Đây cũng là lý do mà hình dạng các loài ma quỷ trong văn hóa Phù Tang lại muôn hình vạn trạng, chúng cũng thường xuyên trở thành đề tài khai thác được đa số các đạo diễn phim ưa chuộng. Trong những câu chuyện dân gian, thần thoại Nhật Bản thì đây là một nhân vật nổi tiếng. Onibaba là truyền thuyết về 1 con quỷ (yokai) cũng tương tự như Yamanba hay bakeneko vậy. Onibaba có hình dạng của một bà già, nó chuyên ăn thịt người, nên mặt nạ kịch Noh của Nhật nhân vật Onibaba được miêu tả có gương mặt méo mó, nhăn nhúm, con mắt to lồi ra, và cái miệng rộng có răng nanh. Nhân vật này cũng có nhiều cái tên khác và nhiều truyền thuyết khác nhau.

Có truyền thuyết kể rằng Onibaba xuất thân là 1 người phụ nữ bình thường, bà ta là nhũ mẫu cho con gái của 1 gia đình giàu có. Do con gái ruột của bà ta bị thất lạc từ nhỏ, nên bà ta rất thương yêu cô chủ. Con gái ruột của bà trước khi bị lạc có đeo 1 lá bùa Omamori để bảo vệ. Cô gái trong gia đình giàu có bị mắc một chứng bệnh lạ, phải ăn gan của các bào thai mới khỏi được. Bà nhũ mẫu đã trốn vào 1 cái hang để đợi những phụ nữ mang thai đi ngang qua. Một hôm, bà ta giết 1 phụ nữ mang thai, và phát hiện ra lá bùa đó, bà ta trở nên điên cuồng mất trí trở thành 1 con quỷ giết người rồi ăn thịt. Hóa điên khi nhận ra mình vừa giết chết cô con gái duy nhất cùng sinh mạng đứa cháu ngoại chưa chào đời, người vú nuôi hóa điên rồi biến thành một con youkai độc nhất, gây ác nghiệp chồng chất. Không chỉ săn lùng phụ nữ mang thai, bà ta săn lùng bất cứ khách lữ hành nào không may đi ngang qua đường mình, giết chết rồi róc thịt ăn. Onibaba được đồn là sống trong 1 cái hang hoặc là 1 ngôi nhà nhỏ trên 1 cánh đồng hoang.

Onibaba.
Onibaba.
Onibaba (1964) – Devil Woman Trailer.

Yume

Yume là một bộ phim tâm lý của đạo diễn Akira Kurosawa, Ishiro Honda. Được coi là một trong những nhà làm phim quan trọng và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử điện ảnh, Kurosawa đã đạo diễn 30 bộ phim trong sự nghiệp kéo dài 57 năm. Kurosawa gia nhập nền công nghiệp điện ảnh Nhật Bản vào năm 1936, sau một thời gian ngắn làm họa sĩ. Sau nhiều năm làm phim với tư cách là trợ lý đạo diễn và người viết kịch bản, ông đã xuất hiện lần đầu tiên với tư cách đạo diễn vào năm 1943, trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, với bộ phim hành động nổi tiếng Sanshiro Sugata (có tên khác là Judo Saga). Sau chiến tranh, bộ phim nhận sự tán dương của giới phê bình Tuý thiên sứ (1948), trong đó Kurosawa đã tuyển nam diễn viên vẫn còn vô danh lúc đó là Mifune Toshirō vào một vai chính, đã củng cố danh tiếng của đạo diễn như một trong những nhà làm phim trẻ tuổi quan trọng nhất tại Nhật Bản. Hai người này sẽ tiếp tục cộng tác trong 15 bộ phim khác. Vợ ông, Yaguchi Yōko, cũng là một nữ diễn viên trong một bộ phim của ông.

Yume được chia làm 8 phần nhỏ tương ứng với 8 giấc mơ của diễn viên chính trong câu chuyện này: Mặt trời trong cơn mưa: Chuyện kể rằng 1 cậu bé không nghe lời mẹ và chạy đi chơi trong cơn mưa; Vườn đào: Nơi diễn ra lễ hội búp bê và câu chuyện về những cây đào; Trận bão tuyết: Một nhóm nhà leo núi trong cơn bão tuyết; Đường hầm: Một người chỉ huy và linh hồn của những thành viên đã chết trong cuộc chiến; Đám đông: Những con người chạy loạn; Núi Fuji màu đỏ: Núi lửa phun trào; Con quỷ đáng sợ: Hậu quả của bom hạt nhân; Làng cối xay gió: ngôi làng đẹp sống cùng tự nhiên. Đây là một bộ phim đầy màu sắc, mang ý nghĩa cao.

Yume - Akira Kurosawas.
Yume – Akira Kurosawas.
Yume – Akira Kurosawas Dreams – Japanese.

Kaguya hime no Monogatari

Kaguya hime no Monogatari là một anime được sản xuất bởi Studio Ghibli, nơi đã cho ra đời hàng loạt siêu phẩm anime hay nhất mọi thời đại. Studio Ghibli lần đầu tiết lộ thông tin Takahata Isao đang thực hiện một phim dài vào năm 2008. Takahata sau đó thông báo tại Liên hoan phim Quốc tế Locarno lần thứ 62 rằng ông sẽ làm phim dựa truyện truyện cổ tích Nhật Bản “Nàng tiên trong ống tre”. Ngày 13 tháng 12 năm 2012, Studio Ghibli và nhà phân phối Tōhō xác nhận việc phát hành phim “Chuyện công chúa Kaguya”. Cùng trong tháng đó, Ikebe Shinichiro dự định sẽ đảm trách phần nhạc phim. Ngày 4 tháng 2 năm 2013, đoàn làm phim thông báo rằng Hisaishi Joe sẽ thay Ikebe phụ trách phần nhạc phim. Đây sẽ là lần đầu tiên Hisashi cộng tác với Takahata Isao và lần đầu tiên ông thực hiện nhạc phim cho đồng thời 2 phim của Studio Ghibli trong cùng một năm; phim kia là anime Kaze Tachinu của Miyazaki Hayao.

Câu chuyện xoay quanh công chúa Kaguya và cuộc đời bí ẩn của cô gái đến từ mặt trăng. Đây là bộ phim đã được đề cử giải “Phim hoạt hình hay nhất” tại Oscar 2015. Nó là một câu chuyện cổ tích Nhật Bản và mang ý nghĩa nhân văn. Kaguya là nàng tiên ống tre trong một số câu chuyện dân gian của Nhật Bản. Một người đàn ông khi lên rừng kiếm củi đã tìm thấy một bé gái bên cạnh đó có rất nhiều đồ quý giá. Ông ấy đã dùng số tiền ấy để con gái mình trở thành công chúa. Những sóng gió liên tiếp xảy ra. Kaguya bị lãnh chúa ép làm vợ, cô đã khóc và cầu xin thần mặt trăng cứu mình. Những nàng tiên nữ từ mặt trăng hạ phàm đưa cô trở về chốn thiên cung. Kaguya không muốn quên đi những kí ức ở trái đất. Cuộc chia tay diễn ra trong dòng nước mắt của cả cô và cha mẹ.

Kaguya hime no Monogatari.
Kaguya hime no Monogatari.
Princess Kaguya Warabe Uta.

Kaidan

Chuyện kinh dị tồn tại ở mọi quốc gia, có thể là điều tốt hay điều xấu. Một số người có mục đích tốt đẹp hơn, khiến trẻ sợ hãi để chúng không vâng lời cha mẹ là một ví dụ. Những người khác tập trung vào việc kiếm tiền, đó là thị trường điện ảnh hiện nay. Kaidan hay những câu chuyện kinh dị của Nhật Bản, đây có thể là một chủ đề rất thú vị để thảo luận. Suy cho cùng, truyện kinh dị là một phần cuộc sống của bất kỳ ai, đặc biệt là thời thơ ấu. Nhưng tại Nhật Bản, Kaidan không có nghĩa là mọi người sợ hãi hay cảm giác lo sợ, mà đúng hơn là một mục tiêu khác. Kaidan là một trong những thể loại mà vẫn kiên trì ở Nhật Bản trong những năm đầu của lịch sử văn học Nhật Bản. Đó là trong thời kỳ Edo rằng có một đánh giá cao hơn về nghệ thuật và văn hóa Nhật Bản trong lịch sử Nhật Bản.

Kaidan là một bộ phim kinh dị, không chỉ vậy, còn có thêm 4 câu chuyện kinh dị khác trong bộ phim. Câu chuyện thứ nhất với nội dung về “Mái Tóc Đen” xoay quanh một anh chàng võ sĩ đạo nghèo, đã chán với cảnh nghèo khó nên anh bỏ người vợ hiện tại của mình để cưới một người con gái sinh trưởng trong gia đình khá giả. Tuy nhiên tình cảm của anh dành cho cô vợ ban đầu vẫn không hề thay đổi. Câu chuyện thứ hai mang tên “Người Phụ Nữ Băng Tuyết” xoay quanh hai anh chàng tiều phu, khi đang đi lên rừng đốn củi thì gặp bão, đành phải ở lại rừng qua đêm. Một cô gái xuất hiện và giết chết người tiều phu già tuy nhiên chàng trai trẻ kia lại được tha. Câu chuyện thứ ba kể về một nghệ sĩ đánh đàn bị mù có tên Hoichi. Anh hay đàn về cuộc thủy chiến đẫm máu xảy ra giữa hai gia tộc Genji và Heike. Hoichi có nhiệm vụ canh gác trong một ngôi đền mỗi khi sư thầy đi vắng. Mỗi đêm anh ta đều gặp một hồn ma, nó thường dẫn anh đến cái nơi mà anh không bao giờ muốn tới.

Kaidan.
Kaidan.
Kaidan trailer.

Mononoke hime

Mononoke hime hay còn được biết đến với cái tên Princess Mononoke là một bộ phim anime nổi tiếng gắn liền với tuổi thơ của rất nhiều người. Studio Ghibli sản xuất đã sản xuất anime này vào năm 1997 và do đạo diễn Hayao Miyazaki chỉ đạo sản xuất. “Mononoke” không phải là một cái tên, đây là cách gọi chung trong tiếng Nhật có nghĩa là ma quỷ hay quái vật, ở đây có thể hiểu là “linh hồn oán hận”. Phim được công chiếu lần đầu tại Nhật vào ngày 12 tháng 7 năm 1997, và tại Hoa Kỳ vào ngày 29 tháng 10 năm 1999. Phim lấy bối cảnh những cánh rừng bạt ngàn và bí ẩn xen lẫn nhiều yếu tố kỳ ảo vào cuối thời Muromachi (1392 – 1572), nơi mà súng đạn dần thay thế cho đao kiếm, sự thống trị của các samurai suy yếu đến mức biến họ thành những tên cướp bóc. Vào thời điểm này, người Nhật Bản nói riêng và loài người nói chung đã có ý thức chinh phục, khai phá thiên nhiên bằng sức lực, trí tuệ của mình. Tuy nhiên sự khai thác bừa bãi đã làm thiên nhiên nổi giận, không ít lần giáng tai họa xuống loài người.

Bộ phim dẫn lối người đọc theo chân anh chàng hoàng tử trẻ tuổi Ashitaka, hoàng tử cuối cùng của bộ lạc Emishi. Với mục đích tìm kiếm sự hòa bình giữa những sinh vật và con người gần pháo đài sắt. Trong hành trình phiêu lưu của mình, anh gặp bà Eboshi, người luôn ấp ủ tham vọng chiếm toàn bộ khu rừng của Tây vực. Sau đó anh chạm trán với con nuôi của thần Sói trắng Moro là công chúa Mononoke. Ashitaka vô tình bị cuốn vào cuộc chiến sinh tử của hai người phụ nữ này, tuy nhiên với sự chân thành và sự tin tưởng, anh đã làm nỗi oán hận loài người trong lòng công chúa Mononoke dịu bớt, thức tỉnh Eboshi. Dù là hoạt hình dành cho thiếu nhi, nhưng đối tượng phù hợp nhất của Mononoke Hime có lẽ là người lớn và thanh thiếu niên. Vấn đề bộ phim đề cập cũng chính là vấn đề nóng bỏng của mọi thời đại: Bảo vệ môi trường sinh thái.

Mononoke hime.
Mononoke hime.
Mononoke hime – Princess Mononoke – Official trailer.

Nhật Bản luôn ghi dấu ấn trong lòng bao nhiêu lữ khách với nét đẹp cổ kính, trầm mặc như chính con người của xứ sở này. Những bộ phim thần thoại trên đây cho chúng ta thấy nhiều góc nhìn khác nhau về cảnh sắc kỳ thú của Nhật Bản. Những phim trên đây có thể bạn chưa biết. Có một số bộ phim mang màu sắc, hơi hướng kinh dị, mộ số khác lại mang màu sắc huyền ảo. Nếu có thời gian rảnh, hãy xem thử những bộ phim kể trên nhé.

 

phim thần thoại nhật bản phim thần thoại hay nhất hotarubi no mori yōkai daisensō momo e no tegami yokai daisenso ugetsu monogatari onibaba yume kaguya hime no monogatari kaidan mononoke hime.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button